SKKN Một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Lịch sử Trung học cơ sở

docx 21 trang vangiang 04/12/2025 2160
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Lịch sử Trung học cơ sở", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_phuong_phap_day_hoc_phat_huy_tinh_tich_cuc_cua_h.docx

Nội dung tài liệu: SKKN Một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Lịch sử Trung học cơ sở

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG MÔN LỊCH SỬ TRUNG HỌC CƠ SỞ CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Lý do khách quan: 1.1. Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong ngành giáo dục nước ta từ năm 1960. Cũng trong thời gian đó, trong các trường sư phạm có khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ II năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong các phương hướng cải cách, nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước. Công cuộc cải cách giáo dục lần III từ năm 1981 đến nay, đồng thời chú trọng cả ba mặt: Cải cách hệ thống giáo dục; cải cách nội dung và phương pháp dạy học. 1.2. Hiện nay, phương pháp dạy học Lịch sử đã được chú trọng đổi mới, cải tiến nhiều góp phần vào nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Tuy nhiên, nhìn chung phương pháp dạy học Lịch sử vẫn chưa theo kịp các cải tiến về nội dung, chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo. Có thể nói, phương pháp dạy học Lịch sử còn có phần bảo thủ, thực dụng. Sự lạc hậu về phương pháp dạy học là một trong những trở ngại của việc nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do giáo viên chưa nhận thức đúng đắn, sâu sắc về vai trò, vị trí của phương pháp dạy học, chưa tiếp cận được những cơ sở khoa học, lí luận về phương pháp dạy học và chú trọng phát huy tính tích cực của học sinh. Vì vậy, cho đến nay sự chuyển biến về phương pháp dạy học ở trường THCS chưa được là bao; phổ biến vẫn là cách dạy thông báo kiến thức định sẵn, cách học thụ động, sách vở. Tuy rằng trong nhà trường đã xuất hiện ngày càng nhiều tiết học tốt của các giáo viên dạy giỏi, theo hướng tổ chức cho học sinh hoạt động, tự chiếm lĩnh tri thức mới.
  2. Nhưng tình trạng chung hàng ngày vẫn là “Thầy đọc, trò chép” hoặc giảng giải xen kẽ vấn đáp, tái hiện, giải thích, minh họa bằng tranh ảnh. 1.3. Hơn nữa, trong việc dạy học, giữa Mục tiêu – Nội dung – Phương pháp – Kiểm tra, đánh giá có mối quan hệ trực tiếp hữu cơ với nhau. Không thể điều chỉnh mục tiêu đào tạo, cải tiến chương trình, nội dung sách giáo khoa mà không đổi mới phương pháp dạy học và phương thức kiểm tra đánh giá trong dạy học. Công việc này đòi hỏi sự nỗ lực của mỗi giáo viên, có thể nói là phải tiến hành một cuộc Cách mạng trong đổi mới phương pháp dạy học. 2. Lý do chủ quan: 2.1. Thực tế hiện nay trong quá trình dạy học môn Lịch sử ở trường THCS đã có không ít giáo viên có tâm huyết với bộ môn, dạy học bằng cả tấm lòng yêu nghề, mang lại hiệu quả thiết thực cho nền giáo dục. 2.2. Tuy nhiên, trong tư tưởng của nhiều người chỉ coi môn Lịch sử trong trường THCS là môn phụ không quan trọng như môn Toán, Văn, Ngoại ngữ Môn Lịch sử chỉ cần học thuộc lòng là đủ, không cần phải sử dụng tư duy lôgíc. Mặt khác nhiều học sinh ngại học môn Lịch sử bởi nó dài và nhiều sự kiện khó nhớ, học rồi lại quên ngay. Chính vì vậy mà các em không thích học môn Lịch sử. Thực tế cho thấy, trong mấy năm trở lại đây, chất lượng môn Lịch sử trong các kì thi lớn như Đại học, Cao đẳng là rất đáng lo ngại. Hằng ngày, các phương tiện truyền thông không ngừng lên tiếng về thực trạng dạy và học môn Lịch sử ở trường phổ thông như một “Vấn nạn” của xã hội. 2.3. Trước thực trạng đó, đòi hỏi người giáo viên dạy môn Lịch sử cần phải nhận thức sâu sắc hơn tầm quan trọng của bộ môn mình phụ trách, phải phát huy được tính tích cực của học sinh, tránh lối học thụ động “Thầy đọc – Trò chép”. Giáo viên cũng nên tránh tình trạng chỉ truyền đạt nguyên si kiến thức trong sách giáo khoa, như thế sẽ tạo cảm giác nhàm chán cho học sinh. Tuy nhiên, giáo viên cũng không nên xa rời nội dung sách giáo khoa, quá mở rộng kiến thức bên ngoài sẽ làm cho bài giảng bị loãng, học sinh khó tiếp thu, như vậy sẽ không mang lại hiệu quả cho giờ học.
  3. Với lí do nêu trên, cho thấy sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học theo lối tích cực hóa ở trường THCS nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập, tôi mạnh dạn đề xuất kinh nghiệm: “Một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong môn lịch sử Trung học cơ sở”. CHƯƠNG II: MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1. Thực trạng của vấn đề: Trường TH và THCS Phương Viên là một trong những trường ở địa bàn xã còn gặp nhiều khó khăn. Tuy trường được thành lập lâu xong cơ sở vật chất còn thiếu, nhưng so với nhiều trường trong khu vực có thể nói trường vẫn hơn hẳn về cơ sở vật chất và điều kiện học tập của học sinh. Hàng năm nhà trường đều có học sinh giỏi và giáo viên giỏi cấp huyện, chi bộ nhà trường nhiều năm đạt danh hiệu chi bộ trong sạch vững mạnh. Đối với bộ môn, tâm lí e ngại bộ môn của các em học sinh còn nhiều, do khối lượng kiến thức còn lớn, nhiều sự kiện Ngoài ra, tâm lí chưa thực sự coi trong môn lịch sử của bộ phận cha mẹ học sinh, cho rằng đây chỉ là môn phụ gây ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập và chất lượng bộ môn. Lịch sử là hiện thực quá khứ đã diễn ra một cách khách quan, hợp quy luật, không lệ thuộc vào sự hiểu biết, ý thức mong muốn của cá nhân. Do những đặc điểm hiện thực Lịch sử (diễn ra theo trình tự thời gian và không lặp lại nguyên si như cũ), và cả nhận thức Lịch sử (không trực tiếp quan sát, không diễn ra trong phòng thí nghiệm) nên giáo viên cần biết hướng cho học sinh những khả năng khôi phục hình ảnh quá khứ đúng như nó tồn tại khách quan và trên cơ sở ấy hiểu Lịch sử. Đúng như lời chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đầu quyển “Lịch sử nước ta” năm 1941 bằng hai câu thơ sau: “ Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Học tập Lịch sử đâu chỉ có biết nhiều sự kiện, chỉ ghi nhớ, học thuộc lòng mà không phải hiểu, không đòi hỏi sự thông minh, sáng tạo. Nhận thức đúng chức năng, nhiệm vụ bộ
  4. môn Lịch sử mới thấy rõ sự cần thiết phải phát huy tính tích cực trong học tập, đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học Lịch sử. Vì vậy, người giáo viên phải có tâm huyết với nghề, có năng lực sáng tạo, có chuyên môn vững vàng và phải giáo dục cho học sinh một số năng lực cần thiết dưới đây: Về kỹ năng: Giúp học sinh nhận thức một cách tích cực, chủ động, sáng tạo kiến thức, vận dụng những điều đã học để tiếp thu kiến thức mới và áp dụng vào cuộc sống. Về thái độ: Làm cho học sinh ý thức được trách nhiệm của mình để trở thành công dân có ích, có khả năng giao tiếp và hoạt động xã hội. Về định hướng phát triển năng lực, phẩm chất: Học sinh biết quý trọng những gì mình đang có, biết ơn những người đã có công xây dựng nên đất nước ngày nay, từ đó góp phần xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ. 2. Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề. 2.1. Xây dựng mục tiêu bài học: Mục tiêu của bài học là cái đích đặt ra cho học sinh cần đạt được sau khi học bài đó. Mục tiêu chỉ đạo toàn bộ nội dung, phương pháp dạy học, hình thức đánh giá của bài đó. Mục tiêu của mỗi bài gồm ba thành tố: Kiến thức, thái độ, kỹ năng. Xây dựng được mục tiêu, người giáo viên mới xác định được những nội dung chính của bài học, từ đó chọn lựa phương pháp phù hợp cho từng mục của bài. Giúp bài giảng đạt hiệu quả và tăng hứng thú học tập cho học sinh. 2.2. Sử dụng các phương tiện dạy học theo hướng phát huy tính tích cực hóa hoạt động của học sinh. 2.2.1. Sử dụng kênh hình trong dạy học:
  5. Trong môn Lịch sử kênh hình không chỉ mang ý nghĩa minh hoạ mà còn góp phần thể hiện nội dung.Việc sử dụng kênh hình giúp giáo viên dễ áp dụng các phương pháp tổ chức, học sinh hào hứng học tập .Qua hình vẽ giáo viên khai thác nội dung bằng các câu hỏi, học sinh làm việc nhiều hơn, tư duy cao và phát huy được tính tích cực trong học tập. Để phát huy hết hiệu quả khi sử dụng hệ thống kênh hình, điều quan trọng là giáo viên phải xác định cho mình nên sử dụng, khai thác thế nào. Theo tôi, khi sử dụng hệ thống kênh hình, giáo viên cần chú ý những điểm sau: - Cần phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục của bài học để lựa chọn phương pháp sử dụng thích hợp, đảm bảo phát huy được sự chú ý và tính tích cực của học sinh vào khai thác kênh hình. - Khi soạn giáo án, giáo viên phải xác định được thời điểm, thời gian hợp lí để sử dụng kênh hình vào bài dạy, và phải xây dựng được hệ thống câu hỏi khai thác một cách hợp lí và hệ thống câu hỏi này phải có tác dụng phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập. - Trước khi hướng dẫn học sinh sử dụng, khai thác, giáo viên phải hiểu một cách đầy đủ và chính xác nhất nội dung kiến thức phản ánh trong kênh hình đó là gì, tức là phải hiểu hết bản chất của kênh hình. - Phải đảm bảo sự kết hợp giữa lời nói với việc trình bày nội dung kênh hình theo hướng rèn luyện khả năng thực hành của học sinh, đồng thời kết hợp với các tài liệu khác khi sử dụng. - Tôi xin đưa ra ví dụ về khai thác và sử dụng H.85 “Trương Định nhận phong soái”, trong Bài 24 - Lịch sử 8 - Tiết 2. - Để khai thác và sử dụng hiệu quả bức tranh này theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, cần thực hiện như sau: + Giáo viên hiểu rõ nội dung kiến thức phản ánh trong bức tranh đó là: bức tranh miêu tả quang cảnh Trương Định nhận phong soái, nó vừa thể hiện sự trang nghiêm, vừa thể hiện sự tôn kính và đồng lòng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa do Trương Định lãnh đạo.
  6. + Xác định thời điểm sử dụng tranh. Sau khi giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu về khởi nghĩa của Trương Định thì hướng dẫn học sinh khai thác tranh minh họa nhằm củng cố và khắc sâu kiến thức. + Xây dựng hệ thống câu hỏi khai thác tranh. GV treo tranh (phóng to) lên bảng. ? Quan sát tranh và hãy miêu tả toàn cảnh bức tranh này? - Học sinh trả lời, giáo viên nhận xét và bổ sung. Bức tranh này thể hiện sự tôn kính của nhân dân và sự đồng lòng hưởng ứng của nhân dân đối với cuộc khởi nghĩa do ông phát động, hãy tìm những chi tiết thể hiện điều đó? Học sinh thảo luận và trả lời. Giáo viên nhận xét câu trả lời và miêu tả toàn bộ bức tranh, trong đó nhấn mạnh sự đồng lòng hưởng ứng của nhân dân đối với cuộc khởi nghĩa do Trương Định phát động và lãnh đạo. 2.2.2. Sử dụng bảng phụ: Giáo viên sử dụng bảng phụ để ghi hệ thống các câu hỏi, bài tập điền khuyết , từ đó hướng dẫn học sinh làm việc cá nhân, học sinh thảo luận nhóm rất có hiệu quả, giáo viên không phải nói nhiều mà học sinh được làm việc tích cực, gây cho học sinh hứng thú, say mê môn học. Ví dụ: Khi dạy Bài 4: Các nước Châu Á - Lịch sử lớp 9. GV có thể sử dụng bảng phụ để làm bài tập củng cố như sau: Khoanh tròn vào từ đầu tiên trước câu trả lời đúng: Câu 1: Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập vào ngày tháng năm nào? A. 22/7/1948 B. 1/10/1949 C. 7/10/1949 D. 1/1/1959 Câu 2: Ai là nhà du hành vũ trụ đầu tiên của Trung Quốc bay vào không gian? A. Lương Triều Vĩ B. Dương Lợi Vĩ
  7. C. Hồ Cẩm Đào D. Trần Quán Hy 2.2.3. Sử dụng phiếu học tập và thảo luận nhóm: Khi sử dụng phiếu học tập kết hợp với thảo luận nhóm, giáo viên cũng dễ dàng tổ chức giao việc cho học sinh làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm đạt hiệu quả cao. Ví dụ: Khi dạy Bài 2: Sự suy vong của chế độ phong kiến và sự hình thành chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu - Lịch sử lớp 7. Mục 1: Những cuộc phát kiến lớn về địa lí. - GV có thể cho lớp thảo luận nhóm với câu hỏi chuẩn bị trước bằng phiếu học tập. GV chia lớp ra thành 4 nhóm, cử nhóm trưởng, thư kí, đọc câu hỏi to trước lớp sau đó phát phiếu học tập cho các nhóm. Mỗi nhóm có thời gian thảo luận là 3 phút. Sau đó đại diện từng nhóm lên trình bày câu trả lời. Các nhóm khác chú ý nhận xét và bổ xung. Nhóm 1: Em hãy nêu nguyên nhân dẫn tới các cuộc phát kiến lớn về Địa li? (Do sản xuất phát triển, các thương nhân, thợ thủ công cần thị trường và nguyên liệu. Do kĩ thuật phát triển, đóng được tàu lớn, có la bàn). Nhóm 2: Trình bày các cuộc phát kiến lớn về Địa lí? ( Năm 1487, Điaxơ vòng quanh cực Nam Châu Phi; 1498, Va- xcô đơ - Ga-ma tìm ra ấn Độ; 1492, Cô-lôm-bô đã tìm ra Châu Mĩ; 1519 – 1522, Ma-gien-lang lần đầu tiên đi vòng quanh trái đất.) Nhóm 3: Trình bày hệ quả của các cuộc phát kiến lớn về địa lí? (Tìm ra những con đường mới, những vúng đất mới; đem lại những món lợi khổng lồ cho thương nhân châu Âu; đặt cơ sở cho việc mở rộng thị trường của các nước châu Âu) Nhóm 4: Nêu ý nghĩa của các cuộc phát kiến địa lí? (Là cuộc Cách mạng về giao thông và tri thức; thúc đẩy thương nghiệp phát triển.) Cuối cùng giáo viên nhận xét và kết luận. 2.3: Vận dụng một số phương pháp theo định hướng đổi mới.
  8. 2.3.1. Phương pháp tường thuật: Tường thuật là một cách trình bày miệng quan trọng, nhằm tái hiện ở học sinh biến cố Lịch sử quan trọng với đầy đủ tính cụ thể và gợi cảm của nó. Tuy nhiên, trong thực tế không ít giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ nội dung vàvị trí của nó trong việc dạy và học Lịch sử ở trường THCS. Bài tường thuật được xây dựng trên cơ sở nội dung sách giáo khoa nhưng tạo cho học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về bức tranh quá khứ đã học. Vì vậy, các em hứng thú học tập hơn. Sức hấp dẫn của tường thuật trong dạy học là cung cấp những sự kiện, dẫn dắt học sinh đến những hiểu biết mới sâu sắc, có ấn tượng mạnh mẽ. Hứng thú học tập sẽ giảm đi nếu bài tường thuật chỉ là sự thông báo vắn tắt khô khan một số sự kiện. Cho nên việc xây dựng bài tường thuật đòi hỏi giáo viên phải biết chọn đúng sự kiện để trình bày thông tin những kiến thức mới, bổ ích phù hợp với trình độ học sinh. Giáo viên trình bày mạch lạc, rõ ràng kết hợp với các phương tiện dạy học ( đồ dùng trực quan, tài liệu mới ). Ví dụ: Khi dạy Bài 5: Công xã Pari 1871 – Lịch sử lớp 8. Mục 2: Cuộc khởi nghĩa ngày 18 – 3 – 1871. Sự thành lập Công xã. GV có thể tường thuật cuộc khởi nghĩa ngày 18.3.1871 kèm theo đồ dùng trực quan: “Sáng sớm tinh mơ ngày 18 tháng 3 năm 1871, Chie cho quân lẻn đến đánh úp dồi Mông-mác (Bắc Paris), để chiếm trọng pháo của Quốc dân quân. Nhân lúc tảng sáng, quân Chie đã vượt qua được những phố vắng tiến tới Mông mác. Chỉ có một đơn vị nhỏ quân vệ quốc canh giữ trọng pháo nên không chống lại nổi quân chính phủ. Trọng pháo lọt vào tay quân chính phủ. Nhưng họ không thể mang ngay đi được, vì mãi đến 8 giờ sáng, ngựa kéo pháo mới tới. Trong khi đó, lệnh báo động đã nổi lên. Thế là công nhân, thợ thủ công và quân Vệ quốc tập hợp lại, theo sau là một toán phụ nữ. Họ kéo cả lên gò Mông mác. Khi đoàn người tới gần, binh lính của Chie đã chĩa nòng súng vào nhân dân. - Bắn! Tên tướng chỉ huy ra lệnh cho quân đội nổ súng.
  9. Nhưng ngay lập tức một hạ sĩ quan bước ra khỏi hàng ngũ và hô lớn “ Quay nòng súng xuống đất !” Một giây nặng nề trôi qua. Những nòng súng của các binh sĩ sẽ hướng về đâu? Theo lệnh tên tướng, bắn vào đám đông máu sẽ đổ, hay làm trái lệnh chỉ huy? Một lần nữa viên tướng gào lên “Bắn!”. Trong giây phút căng thẳng đó, cái thiện đã thắng cái ác trong mỗi người lính. Binh lính không chịu bắn vào nhân dân, quay lại trói viên chỉ huy và đoàn kết với Quốc dân quân. Đồi Mông- mác và trọng pháo vẫn nguyên vẹn trong tay Quốc dân quân. Theo đà thắng lợi đó, tới trưa, Quốc dân quân cùng quần chúng từ các xóm thợ ngoại ô tiến vào trung tâm Pari. Chi-e thấy nguy, hấp tấp kéo đánh nhưng quân đội đã mất tinh thần, rút lui về Véc- xai. Đến chiều, các cơ quan chính phủ đều lọt vào tay quân cách mạng. Cờ đỏ phấp phới bay trên nóc sở Bộ chiến tranh và Tòa thị chính Paris. Cuộc Cách mạng Vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế gới. Uỷ ban Trung ương Vệ quốc quân trở thành Chính phủ lâm thời”. 2.3.2. Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề: Dạy học đặt và giải quyết vấn đề là một hệ thống dạy học dựa trên những quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo bao gồm sự kết hợp những phương pháp dạy học và việc học có những nét cơ sở của sự tìm tòi khoa học. Nhờ vậy, nó đảm bảo cho học sinh lĩnh hội vững chắc những cơ sở khoa học – phát triển tính tích cực, tính tự lực trong năng lực sáng tạo, hình thành cơ sở thế giới quan cho học sinh. Bản chất của dạy học đặt và giải quyết vấn đề là tạo nên một chuỗi những tình huống vấn đề và điều kiện hoạt động của học sinh nhằm tự lực giải quyết những vấn đề học tập. Việc trình bày theo phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề đòi hỏi giáo viên phải nắm vững sự kiện, biết tạo ra tình huống có vấn đề, nhằm phát huy năng lực nhận thức của học sinh. Vì vậy, cách trình bày đặt và giải quyết vấn đề có nhiều ưu điểm hơn việc thông báo tài liệu, đọc lại sách giáo khoa. Trình bày đặt và giải quyết vấn đề vừa cung cấp cho học sinh những sự kiện cần thiết để hiểu biết lịch sử, vừa tạo ra sự suy nghĩ cho các em.
  10. Ví dụ: Khi dạy Bài 14: Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên (thế kỉ XIII) – Lịch sử lớp 7. Phần III: Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân xâm lược Nguyên ( 1287 – 1288). Để tạo được tình huống có vấn đề, giáo viên giới thiệu dẫn dắt vào bài mới: “Sau hai lần xâm lược Đại Việt thất bại, nhà Nguyên không chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Với kế hoạch xâm lược Đại Việt lần thứ ba của chúng như thế nào? Quân dân nhà Trần đã tổ chức kháng chiến ra sao? Đó là nội dung bài học hôm nay.” Đây là ví dụ về tình huống có vấn đề. Tình huống là mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết mà giáo viên tạo ra, nhằm thu hút sự chú ý, hứng thú học tập của học sinh, học sinh cần giải quyết một điều mới, điều chưa biết, trên cơ sở kiến thức của bài học trước. Sự hướng dẫn, gợi mở của người thầy để học sinh tự tìm ra bản chất của sự kiện mới. 2.3.3. Phương pháp dạy học trực quan: Phương pháp dạy học trực quan là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học trong, trước và sau khi nắm tài liệu mới, khi ôn tập, củng cố, hệ thống hoá và kiểm tra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Trong dạy học lịch sử, phương pháp trực quan góp phần quan trọng tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hoá các sự kiện và khắc phục tình trạng hiện đại hoá lịch sử của học sinh. Các phương tiện trực quan rất đa dạng và phong phú. Vì vậy, khi sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử đòi hỏi giáo viên phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dục, giáo dưỡng của bài học để lựa chọn đồ dùng thích hợp, có phương pháp thích hợp trong việc sử dụng mỗi loại đồ dùng. Từ đó, phát huy tính tích cực của học sinh khi sử dụng đồ dùng trực quan, đảm bảo kết hợp lời nói với việc trình bày đồ dùng, rèn luyện khả năng thực hành của học sinh khi xây dựng và sử dụng đồ dùng học tập ( vẽ bản đồ, tường thuật lược đồ, miêu tả hiện vật ).
  11. Ví dụ: Khi dạy Bài 24: Phong trào Tây Sơn – Lịch sử 7. Phần II. Tây Sơn lật đổ chính quyền họ Nguyễn và đánh tan quân xâm lược Xiêm. Để tiết học này đạt được hiệu quả cao, giáo viên phải sử dụng lược đồ và đạt được mức độ sau: Học sinh biết xác định địa danh trên lược đồ, bước đầu biết phân tích kiến thức lịch sử qua lược đồ. Tiếp tục rèn kỹ năng sử dụng lược đồ. Trong tiết học này, giáo viên cần sử dụng hai lược đồ Hình. 57 và Hình. 58 SGK Lịch sử lớp 7 (Phóng to treo trên bảng). Mục 1: Lật đổ chính quyền họ Nguyễn. Giáo viên sử dụng lược đồ: Tây Sơn khởi nghĩa chống các thế lực phong kiến và chống quân xâm lược nước ngoài Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh: Đọc SGK đoạn 1. Chỉ trên lược đồ để thông báo về cuộc khởi nghĩa lan ra khắp nơi một cách nhanh chóng, lật đổ được chính quyền họ Nguyễn: + Tháng 9/ 1773: Hạ thành Quy Nhơn – Giáo viên có thể bổ xung bằng câu truyện Nguyễn Nhạc lập mưu khi hạ thành Quy Nhơn. + Năm 1775: Tạm hoà với Trịnh – Giáo viên đưa ra câu hỏi: Tại sao Nguyễn Nhạc phải hoà hoãn với quân Trịnh? (Vì: Tây Sơn đang ở vào thế bất lợi: phía Bắc có quân Trịnh, phía Nam có quân Nguyễn). + Năm 1777, bắt và giết chúa Nguyễn. Chính quyền họ Nguyễn bị lật đổ ở Đàng Trong. GV đặt câu hỏi: Vì sao cuộc khởi nghĩa lan nhanh và giành thắng lợi? ( Sức mạnh của nhân dân; Tài trí của anh em Tây Sơn ) Mục 2. Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút. Giáo viên phải sử dụng Lược đồ: Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút để tường thuật diễn biến trận chiến này. Cụ thể: Giáo viên treo lược đồ: Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút.
  12. Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, tìm hiểu hệ thống các kí hiệu của lược đồ, dựa vào lược đồ để miêu tả, lược thuật diễn biến trận đánh. Giáo viên kết hợp gợi mở một số câu hỏi để học sinh thảo luận. ? Tại sao quân Xiêm sang xâm lược nước ta? (Do Nguyễn Ánh cầu cứu quân Xiêm). ? Ý đồ tiến quân của giặc? (Quân Xiêm kéo vào Gia Định bằng hai đường thuỷ, bộ: 2 vạn quân thuỷ lên Kiên Giang, 3 vạn quân bộ tiến vào Cần Thơ). ? Tại sao Nguyễn Huệ lại chọn đoạn sông này làm trận địa quyết chiến với quân Xiêm? (Đây là một vùng sông nước hiểm yếu Hai bên bờ sông cây cối rậm rạp, giữa dòng có Cù lao Thới Sơn, địa hình rất thuận lợi cho việc đặt phục binh.) Giáo viên dùng lược đồ để tường thuật chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút: Mờ sáng 19 – 1 – 1785, Nguyễn Huệ dùng mưu nhử địch vào trận địa mai phục. Quân Xiêm có ưu thế về quân số nên tướng địch rất chủ quan, chúng huy động tất cả quân thuỷ, bộ từ phía Trà Lọt tiến xuống Mĩ Tho, đuổi theo quân Tây Sơn. Khi quân địch lọt hoàn toàn vào trận địa mai phục, thuỷ quân của ta giấu ở hai bên bờ sông và Cù lao Thới Sơn bất ngờ xông ra lao vào đội hình địch. Bị tấn công bất ngờ và mãnh liệt, tất cả các chiến thuyền của quân Xiêm bị đánh tan tác, gần 4 vạn quân bị giết tại trận, chỉ còn vài nghìn sống sót vượt qua Chân Lạp về nước. Từ đó, quân Xiêm “sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”, Nguyễn Ánh thoát chết, lại chốn sang Xiêm lưu vong” Sau khi tường thuật xong, giáo viên gọi một hoặc hai em lên bảng tường thuật laị trận đánh bằng lược đồ. Kết thúc, giáo viên cho học sinh trao đổi về ý nghĩa của chiến thắng. “Là một trong những trận thuỷ chiến lớn nhất, lừng lẫy nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc; đập tan âm mưu xâm lược của quân Xiêm; trừng trị hành động bán nước của Nguyễn Ánh; tài chỉ huy của Nguyễn Huệ; đưa phong trào Tây Sơn phát triển lên một bước”. Như vậy, qua sử dụng hai lược đồ H.57 và H.58 - Lịch sử 7, học sinh đã xác định được địa danh, sự kiện Tây Sơn lật đổ chính quyền họ Nguyễn và đánh tan quân xâm lược
  13. Xiêm. Hơn nữa còn giúp học sinh suy nghĩ và giải thích được các hiện tượng lịch sử về mối liên hệ nhân quả, về tính quy luật và sự phát triển của quá trình lịch sử. Giúp các em củng cố và ghi nhớ các kiến thức đã học. Việc sử dụng kênh hình dạy học như trên không chỉ có tác dụng giúp học sinh tạo biểu tượng chân thực về quá khứ, mà còn khắc sâu kiến thức, qua đó hình thành khái niệm và rút ra bài học, quy luật của lịch sử. Đặc biệt nhờ có yếu tố “Trực quan sinh động” học sinh sẽ dễ dàng đạt tới “Tư duy trừu tượng” tạo thêm niềm hứng thú, say mê trong học tập bộ môn, qua đó từng bước nâng cao hiệu quả bài học. 2.3.4. Phương pháp vấn đáp: Phương pháp vấn đáp là phương pháp giáo viên khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới, tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những điều đã học hoặc những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong cuộc sống. Từ đó, giúp học sinh củng cố, mở rộng đào sâu, tổng kết, hệ thống hoá tri thức đã tiếp thu được, nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp học sinh tự kiểm tra, đánh giá và lĩnh hội tri thức. Trong sử dụng phương pháp vấn đáp, đòi hỏi giáo viên phải có nghệ thuật đặt câu hỏi. Câu hỏi phải có nội dung chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, không thể có hai câu trả lời đúng, hình thức gọn gàng. Học sinh phải mạnh dạn trả lời, nếu sai học sinh khác bổ sung, qua đó kích thích hoạt động chung của lớp. Giáo viên không chỉ chú ý đến kết quả trả lời của học sinh mà cả cách diễn đạt câu trả lời một cách chính xác, rõ ràng, hợp lôgíc, là điều kiện quan trọng để phát triển tư duy lôgíc của học sinh. Ví dụ: Khi dạy Bài 1: Sự hình thành và phát triển của xã hội phong kiến ở Châu Âu - Lịch sử lớp 7 – Mục 3: Sự xuất hiện các thành thị Trung đại. GV có thể đưa ra một số câu hỏi ở các mức độ khác nhau, học sinh suy nghĩ trả lời. ? Thành thị trung đại xuất hiện như thế nào? (Cuối thế kỉ XI, sản xuất phát triển, hàng hoá dư thừa được đưa đi bán – thị trấn ra đời – thành thị trung đại xuất hiện.)
  14. ? Cư dân trong thành thị gồm những ai? Họ làm những nghề gì? (Thợ thủ công và thương nhân ) ? Thành thị ra đời có ý nghĩa như thế nào? (Thúc đẩy sản xuất phát triển, tác động đến sự phát triển của xã hội phong kiến.) 2.3.5. Dạy học bám sát theo chuẩn kiến thức – kĩ năng: Thực tế hiện nay, giáo viên không quan tâm đến chương trình chỉ chú ý đến SGK- là tài liệu để học sinh học tập, không coi SGK là pháp lệnh, cố dạy hết SGK gây quá tải. Yêu cầu đặt ra là phải bám sát chuẩn kiến thức – kĩ năng, thông qua SGK để xác định, lựa chọn nội dung cơ bản, kiến thức trọng tâm, giúp học sinh nắm “ít” mà “ tinh”. Ví dụ: Khi dạy Tiết 36. Bài 24. Cuộc kháng chiến từ năm 1858 đến năm 1873 – Lịch sử lớp 8. Phần I. Cuộc kháng chiến từ năm 1858 đến năm 1873. Mục 1. Chiến sự ở Đà Nẵng những năm 1858 – 1859. GV cần cung cấp được những kiến thức sau đây theo đúng chuẩn kiến thức – kĩ năng. - Nguyên nhân Pháp xâm lược: + Từ giữa thế kỉ XIX, các nước phương Tây đẩy mạnh xâm lược các nước phương Đông để mở rộng thị trường, vơ vét tài nguyên. + Việt Nam có vị trí đại lí thuận lợi, giàu tài nguyên thiên nhiên. + Chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng, suy yếu. - Pháp đánh Đà Nẵng: + Lấy cớ bảo vệ đạo Gia-tô, liên quân Pháp-Tây Ban Nha kéo đến Việt Nam. + Ngày 1 – 9 – 1858, quân Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng. + Quân ta dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, lập phòng tuyến, anh dũng chống trả.
  15. + Sau 5 tháng xâm lược, Pháp chỉ chiếm được bán đảo Sơn Trà. Kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp bước đầu thất bại. Tóm lại, việc đưa ra những phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử giúp cho học sinh lĩnh hội sâu sắc và nhớ lâu kiến thức, là phương tiện tốt để hình thành kiến thức, gợi dậy những xúc cảm lịch sử, kích thích hứng thú học tập của học sinh, tạo cơ sở để giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm cho các em. Như vậy, hoạt động tích cực, độc lập của học sinh trong dạy học lịch sử có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường THCS. 2.4. Kết hợp các phương pháp trong quá trình giảng dạy: Để giờ học trở nên sinh động hấp dẫn, có hiệu quả đòi hỏi người giáo viên phải biết phối kết hợp các phương pháp một cách nhuần nhuyễn. Sử dụng quá thiên về một phương pháp nào sẽ làm giờ học trở nên khô khan, làm mất hứng thú học tập của học sinh. 3. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm. 3.1 Kết quả thực nghiệm của vấn đề: Đối tượng áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Học sinh khối lớp 9, trường THCS Văn Lang – Hạ Hòa – Phú Thọ Khi áp dụng : “Một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của người học trong môn Lịch sử THCS” với học sinh khối lớp 9, trường Trung học cơ sở Văn Lang nhận thấy: Trong thời gian đầu nhiều học sinh chưa thực sự hứng thú với bộ môn lịch sử kết quả học tập chưa cao. Sau một thời gian áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này đối với học sinh lớp 9A1 và 9A2 tôi nhận thấy các em học sinh đã có những thay đổi, sự tiến bộ trong học tập bộ môn. Nhiều em tỏ ra thích thú với việc học, tích cực trong học bài và làm bài tập về nhà. - Kết quả học tập bộ môn lịch sử trước khi chưa thực hiện áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
  16. Kết quả Khối lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu SL % SL % SL % SL % 9A1 35 5 14,3 10 28,6 18 51,4 2 5,7 9A2 32 3 9,4 5 15,6 18 56,2 6 18,8 Tổng 67 8 11,9 15 22,4 36 53,8 8 11,9 - Kết quả học tập bộ môn lịch sử của học sinh sau khi áp dụng sáng kiến trong dạy học: Kết quả Khối lớp Sỹ số Giỏi Khá Trung bình Yếu SL % SL % SL % SL % 9A1 35 10 28,6 9 25,7 16 45,7 0 0 9A2 32 4 12,5 6 18,8 17 53,1 5 15,6 Tổng 67 14 20,9 15 22,4 33 49,2 5 7,5 3.2. Đánh giá hiệu quả của việc thực hiện sáng kiến: Việc sử dụng kết hợp linh hoạt và sáng tạo với các phương pháp dạy học khác nhau: Vấn đáp, đặt và giải quyết vấn đề, sử dụng đồ dùng trực quan, tích hợp môi trường Kết hợp với trình bày miệng sinh động, ghi bảng khoa học là những việc làm cần thiết giúp cho giáo viên hoàn thành tốt một tiết dạy trên lớp. Đó chính là cơ sở nâng cao hiệu quả
  17. bài học Lịch sử ở trường THCS. Góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập lịch sử của học sinh, giúp học sinh nắm kiến thức nhanh và vững chắc. Qua đó cũng góp phần nâng cao chất lượng Dạy – Học môn Lịch sử ở trường THCS. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận: Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi giáo dục phổ thông phải đào tạo con người phát triển toàn diện, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Mỗi môn
  18. học ở trường THCS với đặc trưng riêng đều phải góp phần đào tạo thế hệ trẻ, trong đó có bộ môn Lịch sử. Những kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc từ nguồn gốc đến nay có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho học sinh. Những người thực, việc thực trong quá khứ sẽ gợi dậy trong học sinh những tư tưởng, tình cảm đúng đắn, mà những tư tưởng tình cảm này là hành trang tối cần thiết cho thế hệ trẻ trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới. Song muốn phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ bộ môn trong việc giáo dục học sinh, cần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử. Thực trạng hiện nay, muốn nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử thì vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là rất cần thiết. Vì vậy, trong mỗi giờ học lịch sử, giáo viên cần kết hợp các phương pháp dạy học một cách nhuần nhuyễn, hợp lí thì giờ học sẽ đạt được hiệu quả cao. Hơn nữa, học sinh sẽ phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, năng lực sáng tạo trong học tập. Vấn đề này còn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh. Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy, tôi đã đưa ra một số phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THCS. Những phương pháp mà tôi đưa ra đều dựa trên cơ sở lí luận về phương pháp dạy học lịch sử và hệ thống phương pháp dạy học ở trường THCS. Hi vọng các phương pháp đó sẽ nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THCS. 2. Kiến nghị: - Đối với Phòng Giáo dục: Hỗ trợ kinh phí từ tăng cường cung cấp các thiết bị, đồ dùng dạy học cần thiết để phục vụ cho việc học tập và giảng dạy. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng để giáo viên có cơ hội học hỏi, cọ xát nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp dạy học. - Đối với Nhà trường: Tạo điều kiện để cho giáo viên, học sinh được đi tham quan, học hỏi kinh nghiệm, học tập nâng cao chất lượng dạy và học. - Đối với giáo viên trong Nhà trường: Tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, luôn tìm tòi đổi mới các phương pháp dạy học để học sinh hứng thú, say mê học tập.
  19. - Đối với học sinh: Cần tích cực học hỏi, tìm tòi, chủ động trong học tập và lĩnh hội kiến thức. Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của tôi, trong quá trình vận dụng cũng như tổng hợp thành sáng kiến có thể còn hạn chế rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung của đồng nghiệp để bản sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Văn Lang, tháng 01 năm 2019 NGƯỜI VIẾT Cù Thị Châm
  20. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phan Ngọc Liên ( chủ biên): Từ điển thuật ngữ, khái niện lịch sử phổ thông – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1998. 2. Phan Ngọc Liên: Phương pháp luận lịch sử – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2000. 3. Đặng Đăng Hồ, Trần Quốc Tuấn: Bài tập lịch sử ở trường phổ thông – Huế – 2001. 4. Phan Ngọc Liên ( Tổng chủ biên ), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi: Phương pháp dạy học Lịch sử tập 1, tập 2 – NXB Đại học Sư phạm Hà Nội – 2000. 5. Luật Giáo Dục – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội – 1999. 6. Trịnh Đình Tùng ( chủ biên ): Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông, THCS – NXB Giáo dục – 2000. 7. Nguyễn Thị Côi ( chủ biên ), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Thế Bình: Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử – NXB Đại học Sư phạm Hà Nội – 2009. 8. Nguyễn Thị Côi ( chủ biên ): Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS ( phần Lịch sử Việt Nam ) – NXB Giáo dục – 2008. 9. Trịnh Đình Tùng ( chủ biên): Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS ( phần Lịch sử thế giới ) – NXB Giáo dục – 2008. 10. PGS Phạm Sinh Huy, PGS.TS Nguyễn Văn Lê: Giáo dục học đại cương – NXB Giáo dục – 1999. 11. Phạm Minh Hạc ( chủ biên ): Tâm lý học – NXB Giáo dục – 2003.